Thứ Tư, 17 tháng 8, 2016

Phương Tây nói về sức mạnh của xe đạp thồ trong Chiến tranh Đông Dương

Sau khi người Pháp thất bại ở chiến trường vietnam, phương Tây đã phân tích các căn do và tỏ ra khâm phục chiếc xe đạp mà người Việt sử dụng.

LTS:VOV.VN xin trưng bày với độc giả bài viết của tác giả Arnold Blumberg, từng là bộ đội trong lục quân Mỹ tham gia Chiến tranh Việt Nam. Bài viết đăng trên chuyên trang lịch sử HistoryNet, nói về sức mạnh vô địch của những chiếc xe đạp mà vietnam sử dụng trong 2 cuộc binh lửa thần thánh (tít phụ do VOV.VN đặt).

Trong cuộc binh lửa trường kỳ của vn nhằm giành lại độc lập (đầu tiên là từ thực dân Pháp rồi sau đó là Mỹ và các nước bằng hữu), có phổ quát yếu tố góp phần tham gia thành công cuối cùng của những người cộng sản vn. Nguyên cớ then chốt của thành công này là ý chí gang thép và sự kiên định của nhân dân vn – những người đã dựa vào cả những phương tiện tương đối thô sơ để đối đầu với địch thủ dùng các công cụ chiến tranh tối tân. Trong các dụng cụ “công nghệ thấp” thường bị kẻ thù của họ nhạo báng giễu này, có một thứ đóng vai trò mấu chốt đối với kết quả cuộc chiến chống Pháp, và ở một chừng mực thấp hơn trong cuộc binh đao chống Mỹ - đó là chiếc xe đạp.

Phuong Tay noi ve suc manh cua xe dap tho trong Chien tranh Dong Duong - Anh 1

Vận vận chuyển bằng xe đạp đóng vai trò cực kỳ cần thiết trong thành công quyết định của Việt Minh trước người Pháp ở Điện Biên Phủ. Ảnh: Getty.

Có lẽ không có gì minh họa tốt hơn cho thực tế này bằng một bài viết trên một tờ báo London tham gia ngày 3/10/1967 kể về phiên yếu tố nai lưng trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ. Thượng nghị viên Mỹ William Fulbright của bang Arkansas đã phản ứng trước lời xác nhận của một phóng viên tờ New York Times về việc lực lượng cách mạng vn sử dụng nhiều xe đạp trên chiến trường.

Phóng viên Harrison Salisbury, mới ở Hà Nội một thời điểm trước đó, đã cung cấp cho Ủy ban Đối ngoại Thượng viện chi tiết về cách thức mà những chiếc xe đạp giúp “Việt Cộng và quân đội Bắc Việt ” liên tiếp tiếp tế cho lực lượng chống chọi của họ ngay cả trong các vấn đề kiện khắc nghiệt nhất. Phóng viên Salisbury xác nhận một bí quyết cứng rắn: “Tôi thực thụ tin rằng nếu như không có xe đạp họ sẽ phải rút khỏi trận chiến tranh này”.

“Sao không dùng máy bay để săn xe đạp?”

Ngạc nhiên trước tin tức này, thượng nghị sĩ Fulbright đã bật dậy từ ghế ngồi của mình, và vặn vẹo lại Salisbury: “Tại sao chúng ta không tập trung ném bom xe đạp của đồng chí họ thay vì đi ném bom các cây cầu? Liệu Lầu Năm Góc có nhân thức điều này?”

Đông đảo các thành viên Ủy ban Đối ngoại và những người dự phiên điều trằn đều nghĩ vị thượng sĩ này hẳn là đang pha trò. Những tiếng cười rộ lên trước ý nghĩ đó sử dụng số lượng lớn máy bay tân tiến của Mỹ để săn lùng những chiếc xe đạp bên trong các cánh rừng rậm nhiệt đới của vietnam.

Thế nhưng các bộ đội Mỹ xuất hiện trong phiên đầu trần đó thì chẳng thể cười rinh rích được. Khuôn mặt yên ổn im không chút biểu cảm của họ đã nói lên phổ thông nhân tố. “Sếp” của họ ở cả Lầu Năm Góc lẫn vn đều nhân thức rằng việc đối thủ sử dụng xe đạp trong cuộc chiến tranh ở giang sơn Đông Nam Á này đã đạt đến mức độ lớn giúp họ duy trì các nỗ lực chiến tranh chống lại Mỹ. Đối với họ chẳng có gì đáng cười cả. Chiếc xe đạp bé bỏng đã sống sót trước đủ loại tranh bị hiện đại nhất trong kho vũ khí của quân đội Mỹ.

Sau khi Nhật Bạn dạng chiến bại vào cuối Thế chiến 2, người Pháp đã một lần nữa giành quyền giữ vững đối với các thuộc địa cũ của họ ở Đông Dương. Nhưng Chiến trường Việt Minh (do những người cộng sản chỉ huy) đứng đầu là Hồ Chí Minh, đã tỏ rõ cố gắng đánh đuổi đế quốc Pháp khỏi quê hương mình.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là kiến trúc sư hoạch định kế hoạch quân sự của Việt Minh. Vị tướng này đã thực hiện các cuộc quấy phá diện tích nhỏ nhắn nhưng liên tiếp đối với quân Pháp, nhằm phung phí quân địch cả về ý thức và nhóm. Để làm được điều này, ông Giáp phải có năng lực chuyển di đấu sĩ và công cụ chiến tranh một cách thức nhanh lẹ và bí mật quanh quéo mặt trận.

Trận quyết đấu Điện Biên Phủ

Vào năm 1953, sau 7 năm giao đấu dữ dội, phía Pháp đã bị thương vong 74.000 người. Hình như đó, 190.000 quân Pháp bị sa lầy ở các vùng chiếm giữ đóng. Tướng Henri Navarre, tổng tư lệnh các lực lượng Pháp ở Đông Dương kì vọng có thể trao đổi (ý kiến) để sắm lối thoát khỏi cuộc xung chợt này nên đã vạch ra một kế hoạch thu hút tướng Giáp tham gia một trận đánh quyết định. Nếu như tướng Navarre giành được một chiến thắng rõ ràng thì Pháp sẽ ở ưu điểm để đạt được một biện pháp chính trị chuẩn y Pháp rút khỏi vn trong danh dự.

Vị trí mà tướng Navarre chọn cho trận quyết đấu là Điện Biên Phủ, một ngã ba quan trọng nằm tại một thung lũng ở tây bắc Việt Nam, bí quyết đô thị Thủ đô 354km. Điện Biên Phủ án ngữ đoạn đường chính sang Lào và nối với một tuyến tiếp tế hiểm yếu khác từ Trung Quốc. Navarre tin cẩn rằng đối phương của bản thân mình không có đủ khả năng vận tải lượng lương thực và tranh bị cần thiết để giành chiến thắng trong một trận đối đầu ở khu vực bị cách thức ly này.

Tham gia cuối bốn tuần 11/1953, 15.000 quân nhân Pháp chiếm hữu lĩnh Điện Biên Phủ. Phía Việt Minh chấp thuận lời thách đấu và lập cập bủa vây tổ chức cứ điểm của Pháp bằng 50.000 đấu sĩ, với sự cung cấp của hàng chục ngàn dân công, những người đã mở những lối đi mới trong rừng rậm để đưa hàng tiếp tế ra mặt trận.

Cuộc chiến tại thung lũng Điện Biên Phủ biến thành trận chiến hậu cần. Người Pháp đã phạm một sai lầm đau buồn là đánh giá thấp năng lực của Việt Minh trong việc đưa trọng pháo và lượng lớn hàng tiếp tế ra chiến trường. Người Pháp đinh ninh họ chỉ phải đối mặt với pháo đùng là cùng, chứ không hề là pháo tầm xa hạng nặng. Nhưng cuối cùng tướng Giáp đã bố trí được 144 cỗ trọng pháo cộng thêm hàng chục khẩu pháo loại nhẹ hơn quanh quéo căn cứ của Pháp.

Yếu tố chủ chốt trong nỗ lực tiếp tế của Việt Minh trong trận đánh kinh điển này là sự liên minh phổ biến phương án vận chuyên chở, trong đó nhóm vận chuyển vận bằng xe đạp nhập vai trò cốt cán. Đây cũng là đội ngũ xe đạp thồ quân sự lớn nhất trong lịch sử. Dù rằng người vietnam có sử dụng 600 xe ô tô vận vận chuyển Molotova loại 2,5 tấn do Liên Xô đóng hộp cùng thuyền ba ván, ngựa và hàng ngũ những người gùi đồ trên vai, thành phần chủ lực của màng lưới hậu cần Việt Minh vẫn là đội quân 60.000 người đẩy xe đạp thồ.

Tham gia ngày 7/5/1954, sau hơn 3 04 tuần chuẩn bị (bao gồm việc tích tụ lượng lớn lương thực và tranh bị) cùng hơn 2 tháng giao đấu đẫm máu, cuối cùng cụm cứ điểm của Pháp tại Điện Biên Phủ đã thất thủ trước quân Việt Minh. Phía Pháp có hơn 3.000 người tử chiến, và 8.000 người bị bắt khiến cho tù binh.

>> Tìm hiểu: Bảo kiếm Marx-Lenin giúp “châu chấu đá xe”

Trong suốt thời điểm phong bế quân Pháp, các tuyến tiếp tế của Việt Minh chưa bao giờ bị suy chuyển một phương pháp đáng kể trước các đợt ném bom của tàu bay Pháp, dù cho Pháp biết các tuyến con đường tiếp tế cũng như các khu vực cất trữ hàng hóa. Dễ chơi là Pháp không đủ máy bay để ngăn chặn dòng tiếp tế cả ngày lẫn đêm của Việt Minh. Đã vậy, các tán cây của rừng rậm nhiệt đới khiến cho máy bay Pháp rất khó khăn đánh trúng mục tiêu.

Trong cuộc binh đao chống Pháp và sau đó là chống Mỹ, người Việt Nam ưa chuộng chiếc xe đạp Peugeot do chính Pháp đóng gói. Sự lựa chọn số 2 của họ là xe đạp Favorit do Tiệp Khắc chế biến. Một trong các chiếc xe Favorit như vậy đã lập kỷ lục khi tải đến 100 tấn hàng vào các năm 1961-1962.

Gia cố “ngựa sắt”

Xe đạp có năng lực vận vận chuyển khác lạ hiệu quả trên các con đường và cung đường bé hẹp của vietnam tham gia mùa khô. Xe đạp lại rất dễ chỉnh sửa để phục vụ các yêu cầu đặt ra.

Dinh Van Ty, một chỉ huy “lữ đoàn xe đạp” cắt nghĩa: “Trước tiên chúng tôi phải biến những chiếc xe đạp của bản thân thành xe thồ, với thanh gióng ngang có năng lực chở 200kg hoặc hơn... Chúng tôi phải gia cố mọi phòng ban... Chúng tôi ngụy trang mọi thứ bằng lá và thực hiện chuyển di về đêm”.

Ông Ty diễn đạt lại cách thức tháo im xe và lắp thêm giá bằng sắt, gỗ hoặc tre ở bánh sau. Yếu tố này giúp xe chở thêm hàng. Khung xe cũng hay được gia cố thêm bằng cách gắn thêm các miếng sắt, gỗ hay tre. Ngay cả khi mỗi xe đạp thồ có 2 người phụ trách đưa ra trận mạc thì lượng lớn hàng hóa tới được các đội viên vẫn lớn hơn nhiều lượng hàng mà phiên bản thân 2 dân công này tiêu dùng.

Một khi chất đầy hàng lên xe thì người thồ chẳng thể sát xe để yếu tố khiển ghi-đông. Bởi thế, người ta gắn thêm một que gỗ hay sào tre đủ dài tham gia ghi-đông để người thồ có thể nhân tố khiển được chiếc xe đạp. Ngoài ra người ta còn cắm thêm một chiếc gậy vào trục đứng của im xe để đẩy xe tiến về phía trước hoặc hãm xe lại khi xuống dốc.

>> Xem thêm: Sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc vn

Năng lực thồ của những chiếc xe 2 bánh đã được “độ lại” này có thể lên đến gần 3 tạ (trung bình là 2 tạ), cộng thêm khoảng 40kg mà cư dân công mang trên người. Một kỷ lục đã được lập ở Điện Biên Phủ với một chiếc xe đạp chở đến 328kg. Thế nhưng kỷ lục này đã bị phá vỡ vạc bởi một chiếc xe đạp khác trên tuyến tuyến đường mòn Biển Chí Minh vào năm 1964. Chiếc xe đạp này đã chở được tới 420kg trong một lần thồ. Người Việt Nam đã gọi những chiếc xe đạp này là “ngựa sắt”.

Ngoài việc vận chuyển người và hàng hóa, xe đạp còn phục vụ các thương binh ở mặt trận. Năm 1968, một tổ chức kinh doanh con của hãng Peugeot đã chế nhạo ra một mẫu xe đap riêng cho quân đội “Bắc Việt”. Xe này chứa bộ đồ phẫu thuật và thuốc thang, cùng 2 đèn gắn ở đầu với dây điện nối dài có thể túa rời để thắp sáng cho một bệnh viện dã chiến loại ốm. Và người Việt còn chế nhạo ra một loại xe thô sơ chở thương binh về tuyến sau bằng cách sử dụng cọc tre dài gắn 2 xe đạp với nhau rồi treo cáng ở giữa./.

>> Đón xem Kỳ 2: Quân viễn chinh Mỹ bất lực trước xe đạp thồ của “Việt Cộng”

Trung Hiếu/VOV.VN Lược dịch từ HistoryNet.com


Có thể bạn quan tâm:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét