Ngôi chùa Sùng Bảo (xã Xuân Dục, huyện Mỹ Hào, tỉnh giấc Hưng Im) với tuổi đời hơn 1.500 năm chứa đựng nhân thức bao nhiêu những ký ức của lịch sử dân tộc. Cũng trong ngôi chùa ấy còn cất giữ một bảo vật, gắn liền với truyền thuyết “tượng đất hóa tượng tiến thưởng” đã được kể lại hàng nghìn năm nay ở mảnh đất phường Hiến này. Báu vật ấy là tượng Đức Phật Bà Đồng Quân.
Trước ngôi chùa Sùng Bảo, nơi gắn liền với tích “tượng đất hóa tượng vàng”.
Từ bức tượng đất của bằng hữu trẻ chăn trâu…
Theo lời bà Sật- một giáo đồ Phật tử kể lại, xưa các mục đồng đi chăn trâu ở Xuân Dục thường sử dụng đất ở bãi chăn thả trâu để nhào nặn thành các pho tượng. Các mục đồng dùng lá chuối khô hoặc rơm rạ dựng thành những túp lều nhỏ để chơi đồ hàng.
Thời điểm ấy, cánh đồng Quân có một bụi dứa rất to. Trẻ thơ chăn trâu ở đội tuổi khoảng 11-12 thường quanh lẩn quẩn ở đó. Chơi chán những trò con trẻ vẫn chơi như chọi cỏ gà, ê a học bài, rồi đuổi bắt, chúng nhìn bụi dứa to đột nhiên nghĩ đến chuyện làm nhà loanh quanh đó. Thế là chúng lấy những cây lau làm cột nhà, lấy lá dứa cuốn quanh quéo làm mái. Ngày ấy bà con đã truyền khẩu câu thơ “Bụi lau lá dứa dựng lên làm cho chùa”.
Sau đó chúng lấy đất nặn một pho tượng, đặt trong ngôi nhà lau. Hàng ngày, chúng lấy cơm gạo tẻ đóng thành oản, mang ra ngôi nhà lau cúng Bụt rồi mới chia nhau ăn. Thời ấy chưa khách hàng nào biết đến Phật pháp, cộng đồng con trẻ chăn trâu chỉ nhớ hình tượng Bụt trong chuyện cũ rích tích nên đặt tên Bụt cho bức tượng và thật tình lễ cúng Bụt. Chúng lấy bát ở nhà mang ra, treo dưới những lá dứa để khiến cho chuông, lấy giẻ làm khánh, rồi cũng gõ tham gia chuông để tạo không khí nghiêm trang mỗi lần cúng lễ.
Ngay trước ngôi chùa của bằng hữu trẻ có một con kênh nho nhỏ nhắn, bên phải có chiếc giếng làng lúc nào cũng đục ngầu và sôi sùng sục. Theo lời bà Sật, dân làng đã mua bí quyết lấp phổ biến lần nhưng không được vì lần nào cũng xảy ra chuyện. Người thì ngã gẫy chân, người thì nhỏ tuổi nặng ngay trong ngày khuân đá lấp giếng. Dân làng lo ngại cũng đã khiến cho lễ cúng nhưng người thầy cúng nghĩ là giếng thiêng, chẳng thể lấp được nên mọi người không khách hàng nào dám nghĩ tới chuyện lấp giếng nữa. Tới hiện giờ nước trong giếng ấy vẫn còn sủi tăm.
Đồng chí trẻ chăn trâu tuy nghịch ngợm nhưng cũng biết chuyện giếng thiêng, không dám phạm. Chúng chỉ chí thú vào việc cúng lễ cho ông Bụt mà chúng nặn lên. Cho đến một buổi tối ngay trước ngày rằm 04 tuần 2 âm lịch, giông gió hốt nhiên nổi lên từ tứ phía, cây trồng đổ bộn bề. Cả thị trấn như biến thành hoang tàn chỉ sau một đêm. Nhân tố kỳ lạ là, tại ngôi chùa lá, nơi cộng đồng con nhỏ đặt tượng đất lại hiển hiện lên một pho tượng màu vàng tiến thưởng. Con nít thấy lạ quá vội về gọi người làng. Dân làng chạy ra quá bất ngờ khi thấy tượng đất tỏa hào quang, toàn thân là màu vàng, hương tỏa thơm ngát.
… tới tượng tiến thưởng khôn thiêng trong lễ rước cầu Đảo
Bà Sật kể: “Tôi vẫn nhớ như in những lời người già truyền lại về tích “tượng đất hóa tượng tiến thưởng” quái gở này. Bạn nào nấy đều quá bất ngờ và trằm trồ trước sự lạ. Các cụ đều nói rằng “Ngài ngồi giữa quán, mặc nhiên sau trận bão lớn, toàn thân màu tiến thưởng, tỏa hào quang quẻ. Trông Ngài đẹp lắm”.
Khi người làng kéo nhau ra xem sự lạ, các cụ cao tay trong làng thấy vậy cho là điềm lạ, sự thiêng liền quỳ lạy và bàn nhau rước Ngài tham gia một cung trong chùa nhưng rước đi mà không được Ngài đồng ý. Ngay ngay thức thì có người đề nghị cứ để Ngài ở ngoài nhưng hồ hết quần chúng đều nghĩ là: nếu như để Ngài ở ngoài thì không an toàn vì toàn thân ngài hóa tiến thưởng thật. Sau đó đại chúng bàn nhau xây một quán bé để thờ Ngài tại nơi Ngài hóa. Nhưng chưa kịp xây thì Ngài về báo mộng cho các cao siêu đưa Ngài tham gia chùa. Lúc ấy mới rước được Ngài vào một cung trong chùa và đặt tên pho tượng là Đức Phật Bà Đồng Quân.
Bà Sật kể, cách đây khoảng 20-30 năm, có một người trong làng không tin vào tích “tượng đất hóa tượng vàng” của Đức Phật Bà Đồng Quan đã dám vạch tượng ra để “xem” Ngài. Ngay khi lễ rước tượng xong xuôi, về tới cổng chùa Sùng Bảo, chưa kịp hạ kiệu để rước Phật Bà vào chùa thì một luống tuổi trong làng vạch kiệu ra xem. Ngay tức khắc người này phần nhiều bị bỗng nhiên tử ngay tại cổng chùa, hộc máu tươi.
Người làng sợ quá, đa số quỳ xuống cầu nguyện, xin sám ăn năn, xin xá tội, phải đến 30 phút sau người con trai này mới thức giấc lại. Bà Sật còn cho nhân thức thêm, rằm 04 tuần 2, cứ 5 năm một lần, dân làng khiến lễ rước Phật Bà phải làm lễ xin phép Ngài để được chiêm bái và tắm rửa cho Ngài. “Tôi cũng được một lần nhìn tận mắt Ngài. Ngài đẹp lắm dù chỉ bé xíu bằng nửa cánh tay mình thôi” - bà Sật nói giọng vẫn còn xúc động.
Bà Sật cũng kể, bà được nghe các cụ cao quý kể lại về sự việc tượng vàng Phật Bà Đồng Quân bị kẻ gian ăn trộm một vài lần. Một lần Ngài bị đánh cắp, bọn trộm đưa Ngài sang sông. Mấy ngày sau Đức Phật về báo mộng cho các già tới chiếc giếng bên sông để đón Ngài về. Sáng hôm ấy các già vẫn giả vờ làm cho việc tầm thường, mang theo đôi quang gánh, tới bên sông thì đã thấy Ngài ngồi sẵn ở đấy để đợi.
Cũng có lần Ngài bị ăn cắp, đưa lên tận Thủ đô nhưng Ngài cũng tìm phương pháp báo mộng cho các già lên đón về. Các già cũng lại phải sửa biên soạn đi Hà Nội một chuyến nhưng vẫn phải giấu kín người lạ bởi sợ mất thiêng, không đón Ngài về được. Tới nay câu chuyện về sự tích “tượng đất hóa tượng vàng” vẫn được người dân phường Xuân Dục kể cho con cháu nghe và cùng giữ gìn để nối tiếp truyền thống văn hóa của các thôn, làng từ bao đời nay và cùng thờ Đức Phật Bà Đồng Quân với một ước muốn “mùa màng sẽ tươi tốt, bội thu”.
Nhật Thu
Xem nhiều hơn: japan shop online
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét